Khoảng PQ là gì? Ý nghĩa khoảng PQ khi đọc điện tâm đồ
15 mins read

Khoảng PQ là gì? Ý nghĩa khoảng PQ khi đọc điện tâm đồ

KHOẢNG PQ (PR) TRÊN ĐIỆN TÂM ĐỒ: BẢN CHẤT SINH LÝ, KỸ THUẬT ĐO VÀ Ý NGHĨA LÂM SÀNG THỰC CHIẾN

Bản chất sinh lý của khoảng PQ trên điện tâm đồ là gì?

Khoảng PQ (thường được gọi tương đương là khoảng PR khi phức bộ khử cực thất không có sóng Q) là một thông số điện học quan trọng đại diện cho toàn bộ thời gian dẫn truyền nhĩ thất. Bản chất của khoảng thời gian này ghi lại hành trình lan truyền của xung động điện học:

  • Bắt đầu phát sinh từ nút xoang, làm khử cực cơ nhĩ phải rồi đến cơ nhĩ trái.

  • Đi qua hệ thống các đường liên nút để tập trung về nút nhĩ thất.

  • Chậm lại một cách sinh lý tại nút nhĩ thất để các buồng tâm nhĩ có đủ thời gian co bóp tống máu xuống hai tâm thất.

  • Đi tiếp qua thân chung của bó His, chia vào hai nhánh bó His trái – phải và phân tán vào mạng lưới sợi Purkinje nhằm kích hoạt những tế bào cơ tim đầu tiên ở tâm thất.

Toàn bộ quá trình dẫn truyền từ khối cơ tâm nhĩ xuống đến các nhánh sợi của hệ thống dẫn truyền tâm thất được thể hiện trọn vẹn qua khoảng PQ.

Cách đo khoảng PQ chuẩn xác trên bản ghi điện tim

Để có kết quả chuẩn mực, người đọc cần tuân thủ các nguyên tắc đo đạc sau:

  • Điểm bắt đầu: Đặt thước đo ngay tại điểm khởi phát đầu tiên của sóng P (vị trí đường đẳng điện bắt đầu lệch hướng để hình thành sóng P).

  • Điểm kết thúc: Đặt thước đo tại điểm bắt đầu của phức bộ khử cực thất.

    • Nếu phức bộ có sóng Q: Điểm kết thúc là điểm khởi đầu của sóng âm Q. Lúc này khoảng đo gọi là khoảng PQ.

    • Nếu phức bộ không có sóng Q (chỉ có sóng R đi lên ngay sau đường đẳng điện): Điểm kết thúc là điểm khởi đầu của sóng dương R. Lúc này khoảng đo thường được gọi là khoảng PR.

  • Chuyển đạo ưu tiên để đo: Nên lựa chọn các chuyển đạo có sóng P và khởi đầu phức bộ QRS nhìn thấy sắc nét, rõ ràng nhất, thông thường là chuyển đạo D2 hoặc các chuyển đạo trước tim như V1, V5. Tránh đo ở những chuyển đạo sóng P quá dẹt hoặc bị lẫn với đường nhiễu của máy.

Giá trị bình thường của khoảng PQ và các yếu tố ảnh hưởng

Ở người trưởng thành Việt Nam có nhịp tim xoang bình thường:

  • Thời gian chuẩn dao động từ 0,12 giây đến 0,20 giây (tương đương với từ 120 mili giây đến 200 mili giây, hay từ 3 ô nhỏ đến 5 ô nhỏ trên giấy chạy tốc độ chuẩn 25 milimet trên giây).

  • Khi thời gian đo được dưới 0,12 giây: Được kết luận là khoảng PQ ngắn.

  • Khi thời gian đo được trên 0,20 giây: Được kết luận là khoảng PQ dài (kéo dài).

Các yếu tố ảnh hưởng đến độ dài sinh lý của khoảng PQ:

  • Theo độ tuổi: Hệ thống dẫn truyền tim ở trẻ nhỏ có kích thước cơ tim ngắn và tốc độ hồi phục nhanh hơn người lớn, do đó khoảng PQ ở trẻ em có xu hướng ngắn hơn. Ví dụ ở trẻ 7 tuổi, khoảng PQ tối thiểu thường là 0,10 giây và tối đa thường ở mức 0,18 giây.

  • Theo tần số tim: Khoảng PQ tỷ lệ nghịch với nhịp tim. Khi tần số tim đập nhanh (như khi gắng sức, sốt cao, xúc động), nút nhĩ thất chịu sự kích thích của hệ thần kinh giao cảm nên tốc độ dẫn truyền tăng lên, làm cho khoảng PQ bị rút ngắn lại. Ngược lại, khi tần số tim chậm (lúc ngủ sâu, người luyện tập thể thao, cường phó giao cảm), khoảng PQ sinh lý có thể hơi dãn dài hơn bình thường một cách lành tính.

Các dạng khoảng PQ bệnh lý thường gặp trên lâm sàng

Sự biến đổi của khoảng PQ phản ánh các rối loạn dẫn truyền hoặc bất thường cấu trúc đường điện thế của tim:

1. Khoảng PQ kéo dài (thời gian trên 0,20 giây)

Hiện tượng xung động từ nhĩ xuống thất bị chậm trễ bệnh lý, nguyên nhân gồm có:

  • Blốc nhĩ thất độ một: Tất cả các sóng P đều dẫn được xuống tâm thất, nhưng khoảng PQ kéo dài cố định trên 0,20 giây trên toàn bộ bản ghi.

  • Blốc nhĩ thất độ hai kiểu Mobitz một (chu kỳ Wenckebach): Khoảng PQ dài dần ra qua từng chu chuyển tim cho đến khi xuất hiện một sóng P bị nghẽn lại hoàn toàn, không có phức bộ QRS theo sau. Sau nhịp rơi đó, chu kỳ lặp lại từ đầu với một khoảng PQ ngắn nhất.

  • Blốc nhĩ thất độ hai kiểu Mobitz hai: Khoảng PQ ở các nhát bóp dẫn truyền được giữ ở mức cố định (có thể bình thường hoặc dài trên 0,20 giây), sau đó đột ngột xuất hiện sóng P bị nghẽn không dẫn sang thất mà không có dấu hiệu dài dần trước đó.

  • Tác dụng phụ hoặc ngộ độc thuốc: Dùng các thuốc làm chậm dẫn truyền qua nút nhĩ thất như Digitalis, thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc chẹn kênh canxi nhóm non-dihydropyridine, thuốc chống loạn nhịp nhóm ba.

  • Các bệnh lý khác: Viêm cơ tim cấp, thấp tim (tiêu chuẩn Jones), thiếu máu cục bộ cơ tim vùng thành dưới làm tổn thương nhánh động mạch cấp máu cho nút nhĩ thất.

2. Khoảng PQ bị đứt đoạn (phân ly nhĩ thất) Biểu hiện bằng việc sóng P và phức bộ QRS mất hoàn toàn mối liên hệ với nhau, tâm nhĩ và tâm thất co bóp độc lập theo hai chủ nhịp riêng biệt.

  • Blốc nhĩ thất độ ba (hoàn toàn): Xung động từ tâm nhĩ bị chặn đứng hoàn toàn không thể xuống được tâm thất. Tâm nhĩ đập theo nhịp xoang nhanh hơn, còn tâm thất đập theo một nhịp thoát chậm chạp xuất phát từ bộ nối hoặc cơ thất.

  • Cơn nhịp nhanh thất (VT): Tâm thất phát nhịp với tốc độ rất nhanh, độc lập hoàn toàn với sóng P của nút xoang đi sau hoặc đi xen kẽ.

3. Khoảng PQ ngắn (thời gian dưới 0,12 giây)

Xung động khử cực tâm thất xuất hiện quá sớm, thường gặp trong các tình huống:

  • Hội chứng Wolff – Parkinson – White (WPW): Tồn tại đường dẫn truyền phụ bẩm sinh (bó Kent) nối trực tiếp cơ nhĩ với cơ thất mà không đi qua nút nhĩ thất. Dòng điện đi tắt qua đường phụ làm khử cực thất sớm một phần, biểu hiện bằng khoảng PR ngắn dưới 0,12 giây, xuất hiện sóng delta trát đậm ở đầu phức bộ QRS và làm QRS giãn rộng.

  • Hội chứng Lown – Ganong – Levine (LGL): Tồn tại đường phụ (bó James) đi tắt vòng qua nút nhĩ thất. Khoảng PR ngắn dưới 0,12 giây nhưng phức bộ QRS vẫn thanh mảnh bình thường và không có sóng delta.

  • Nhịp bộ nối hoặc nhịp nhĩ thấp: Ổ phát nhịp nằm gần nút nhĩ thất hoặc nằm tại tầng bộ nối, làm cho đường đi của xung động đến tâm thất ngắn lại, biểu hiện bằng khoảng PR rất ngắn đi kèm sóng P âm ở các chuyển đạo dưới.

  • Ngoại tâm thu nhĩ phát nhịp từ vị trí thấp gần bộ nối: Sóng P đến sớm, hình thái khác sóng P xoang và có khoảng dẫn truyền ngắn.

Bài tập thực hành số 5: Phân tích khoảng dẫn truyền nhĩ thất

Dành cho học viên khóa cơ bản tự đánh giá năng lực đọc điện tim:

Nội dung bài tập:

  1. Hãy quan sát bản ghi điện tim số 5 và tính khoảng dẫn truyền nhĩ thất của ca bệnh này theo đơn vị mili giây và theo số ô nhỏ trên giấy đo.

  2. Từ thông số khoảng PR đo được ở ca bệnh này, bạn chẩn đoán hay nghĩ tới bệnh lý tim mạch nào?

  3. Hãy giải thích tại sao khoảng PQ ở ca bệnh này lại có thời gian biến đổi như vậy? (Dựa trên cơ chế điện sinh lý và giải phẫu dẫn truyền).

  4. Bản ghi điện tim này có sóng Q hay không, và tại sao lại có hoặc không có sóng Q đó?

Thang điểm đánh giá năng lực:

  • Mức độ Cơ bản: Hoàn thành chính xác câu hỏi 1 và câu hỏi 2 (Đạt 7 điểm).

  • Mức độ Nâng cao: Phân tích logic, chuẩn xác câu hỏi 3 và câu hỏi 4 (Đạt trọn vẹn từ 8 điểm đến 10 điểm).

Bài viết tiếp theo trong chuỗi thực hành: Hướng dẫn phân tích toàn diện phức bộ QRS và biến đổi nhánh nội điện trên điện tâm đồ lâm sàng.

One thought on “Khoảng PQ là gì? Ý nghĩa khoảng PQ khi đọc điện tâm đồ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *